• Ủy Thác XNK

    Ủy Thác XNK

    1. Khách hàng muốn đứng tên công ty khách hàng nhập khẩu
    2. Khách hàng muốn công ty chúng tôi đứng tên xuất nhập khẩu
  • Vận Tải Hàng Không

    Vận Tải Hàng Không

    Bất cứ khi nào bạn có nhu cầu vận chuyển hàng hoá từ Việt Nam đi Quốc Tế hay ngược lại trong thời gian nhanh nhất - HÃY GỌI CHÚNG TÔI.
  • Vận Tải Đường Biển

    Vận Tải Đường Biển

    Chúng tôi cung cấp dịch vụ ổn định của hầu hết các hãng tàu quốc tế như: Mearsk, APL, Cosco, K-Line, OOCL, Hapgag Lloyd.....
  • Thủ Tục Hải Quan

    Thủ Tục Hải Quan

    Với phần mềm khai báo hải quan chuyên dụng cùng với nhân viên có kinh nghiệm và kiến thức sử dụng phần mềm, P.S LOGISTICS sẽ giúp quý công ty khai báo hải quan điện tử nhanh chóng và chính xác.

“Công ty chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ và tư vấn miễn phí cách dịch vụ xuất nhập khẩu hải quan, nếu có bất kỳ thắc mắc nào vui lòng gửi câu hỏi của quý khách cho chúng tôi."

Hoàn thuế giá trị gia tăng hàng xuất khẩu
HỎI: Công ty chúng tôi đã xuất khẩu hàng hoá nhưng bị khách hàng nước ngoài trả lại. Số hàng hoá này sẽ được sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng thì sẽ phải khấu trừ thuế giá trị gia tăng số hàng hoá bị trả lại như thế nào?

TRẢ LỜI:
Điểm 1.2c Mục III Phần B Thông tư số 32/2007/TT-BTC (9/4/2007) của Bộ Tài chính hướng dẫn xác định thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ như sau: “Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ là thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế
giá trị gia tăng”.
Căn cứ hướng dẫn nêu trên, hàng hoá bán ra thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, hàng hoá bán ra không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng thì không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Như vậy, công ty xuất khẩu hàng hoá, bị khách hàng nước ngoài trả lại, nếu hàng hoá bị trả lại được tiếp tục sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng thì công ty được kê khai để khấu trừ hoặc hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của số hàng hoá xuất khẩu bị trả lại theo hướng dẫn tại Điểm l Mục I Phần D Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 9/4/2007 của Bộ Tài chính.
Công ty không được hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của lô hàng xuất khẩu bị trả lại đối với trường hợp xuất khẩu hàng hoá theo hướng dẫn tại Điểm 1b Mục I Phần D Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 9/4/2007.

Thủ tục và thuế đối với mỹ phẩm nhập về VN?
HỎI: Tôi có người bạn du học sinh ở Nhật. Bạn tôi muốn nhập hàng mỹ phẩm và các sản phẩm làm đẹp từ Nhật, Hàn, Trung Quốc, Đài Loan (của cùng 1 công ty) về Việt Nam bán...

TRẢ LỜI:

Muốn nhập khẩu mỹ phẩm và các sản phẩm làm đẹp từ Nhật về Việt Nam, bạn phải làm thủ tục hải quan. Theo Điều 22 Luật Hải quan năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2005, hồ sơ hải quan có thể là hồ sơ giấy hoặc hồ sơ điện tử, bao gồm:

- Tờ khai hải quan;

- Hoá đơn thương mại;

- Hợp đồng mua bán hàng hoá;

- Giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với nhập khẩu hàng hóa mà theo quy định của pháp luật phải có giấy phép;

- Các chứng từ khác theo quy định của pháp luật đối với mặt hàng mà người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan hải quan.

Trình tự, thủ tục hải quan được thực hiện theo Điều 16 Luật Hải quan năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2005 như sau:

- Khai và nộp tờ khai hải quan; nộp, xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; trong trường hợp thực hiện thủ tục hải quan điện tử, người khai hải quan được khai và gửi hồ sơ hải quan thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của Hải quan;

- Đưa hàng hóa đến địa điểm được quy định cho việc kiểm tra thực tế;

- Nộp thuế nhập khẩu.

Ngoài ra, bạn còn phải nộp thuế GTGT cho mặt hàng nhập khẩu.

Để đáp ứng những tiêu chuẩn cho phép nhập khẩu một mặt hàng, bạn phải đảm bảo điều kiện quy định tại Điều 34 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 về điều kiện bảo đảm chất lượng hàng hoá nhập khẩu, nghĩa vụ của người nhập khẩu quy định tại Điều 12 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007, các qui định liên quan đến quản lý nhập khẩu mỹ phẩm tại điều 35  Thông tư 06/2011/TT-BYT của Bộ Y tế.

Các trường hợp được phép bán hàng giữ trong kho ngoại quan vào nội địa

HỎI: Một doanh nghiệp Việt Nam gửi hàng trong kho ngoại quan, nay doanh nghiệp muốn bán một phần lô hàng cho khách hàng ở Việt Nam có được không? Cần làm những thủ tủc gì để nhập hàng từ kho ngoại quan vào nội địa?

TRẢ LỜI:
Điểm 5.2, phần VII, mục 2 Thông tư số 112/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính có quy định về việc hàng hoá từ kho ngoại quan được đưa vào nội địa trong các trường hợp sau: hàng hoá nhập khẩu được đưa vào tiêu thụ tại thị trường Việt Nam quy định tại điểm b, khoản 2, điều 26 Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005; hàng hoá được đưa vào nội địa để gia công, tái chế; hàng hoá là máy móc thiết bị thuê của nước ngoài khi kết thúc hợp đồng đã tái xuất và gửi kho ngoại quan được đưa vào nội địa để thực hiện hợp đồng thuê tiếp theo; trường hợp có lý do chính đáng và được Cục trưởng Hải quan nơi có kho ngoại quan chấp nhận, hàng hoá đã xuất khẩu gửi kho ngoại quan được làm thủ tục nhập khẩu vào nội địa. Thủ tục hải quan thực hiện như hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài.
Nếu hàng hóa giữ trong kho ngoại quan của công ty thuộc các trường hợp trên thì được phép bán một phần vào nội địa theo đúng quy định. Chủ hàng hoặc đại diện hợp pháp của chủ hàng phải làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá đưa vào nội địa như thủ tục nhập hàng hoá từ nước ngoài theo đúng quy định của từng loại hình nhập khẩu tương ứng.

Hàng “tạm xuất – tái nhập” được miễn thuế xuất, nhập khẩu
HỎI: Công ty tôi có dự án đầu tư ở nước ngoài, hiện cần mang máy móc thiết bị ra nước ngoài để thi công. Xin hỏi, công ty sẽ phải làm thủ tục hải quan cho các máy móc thiết bị này theo dạng “tạm xuất – tái nhập” có đúng không? Hàng “tạm xuất – tái nhập” thì có phải đóng thuế xuất nhập khẩu không?

TRẢ LỜI:
Căn cứ quy định tại điểm XIV, mục 2, phần B Thông tư số 112/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan thì hàng hoá là máy móc thiết bị tạm xuất tái nhập phục vụ thi công công trình, dự án đầu tư thực hiện theo quy định đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại.
Loại hình tờ khai là loại hình “tạm xuất – tái nhập”. Khi kê khai chi tiết trên tờ khai, phần tên hàng hóa, công ty phải kê khai đầy đủ, chi tiết các thông số kỹ thuật đối với máy móc, thiết bị. Đối với xe ô tô phải ghi đầy đủ số khung, số máy… để cơ quan hải quan kiểm tra, đối chiếu khi tạm xuất cũng như khi tái nhập.Đối với hàng hóa “tạm xuất – tái nhập” để thi công công trình tại nước ngoài, theo quy định tại điểm 1.1, mục I, phần D Thông tư số 59/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Trong thời hạn tối đa không quá 90 ngày sau khi kết thúc công việc tại nước ngoài theo quy định, công ty phải khai báo và làm thủ tục tái nhập các máy móc, thiết bị đó về Việt Nam.

Nhập hàng đã xuất đến cảng trung chuyển về như thế nào?
HỎI: Công ty chúng tôi đang có 01 lô hàng xuất khẩu đến Serbia qua cảng trung chuyển Singapore, khách hàng từ chối nhận hàng do lỗi in ấn bao bì, vì thế chúng tôi phải nhập khẩu hàng về Việt Nam khi hàng đến cảng trung chuyển:
- Hàng hóa nhập khẩu (Theo hình thức tái nhập) từ cảng trung chuyển Singapore về Việt Nam, sau đó tái xuất được miễn thuế nhập khẩu (Tái nhập) 26% phải không. Thuế VAT 5% được hoàn lại sau khi thanh lý tờ khai hàng hóa nhập khẩu (Tái nhập) phải không ?
- Thủ tục Hải quan: Bộ tờ khai hàng hóa nhập khẩu (tái nhập) bao gồm những chứng từ gì ? Cần chuẩn bị những chứng từ gì trước khi hàng hóa nhập khẩu đến cảng TP.HCM, Việt Nam ?

TRẢ LỜI:
1. Căn cứ Điểm 1.2c Mục III Phần B Thông tư số 32/2007/TT-BTC (9/4/2007) của Bộ Tài chính hướng dẫn xác định thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ như sau: “Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ là thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng”.Căn cứ hướng dẫn nêu trên, hàng hoá bán ra thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng thì được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, hàng hoá bán ra không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng thì không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Như vậy, công ty xuất khẩu hàng hoá, bị khách hàng nước ngoài trả lại, nếu hàng hoá bị trả lại được tiếp tục sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng thì công ty được kê khai để khấu trừ hoặc hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của số hàng hoá xuất khẩu bị trả lại theo hướng dẫn tại Điểm l Mục I Phần D Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 9/4/2007 của Bộ Tài chính. Công ty không được hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của lô hàng xuất khẩu bị trả lại đối với trường hợp xuất khẩu hàng hoá theo hướng dẫn tại Điểm 1b Mục I Phần D Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 9/4/2007.
2. Căn cứ Điểm 7.1, 7.2 Mục I Phần E Thông tư 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài Chính Hướng dẫn thi hành Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Hàng hoá đã xuất khẩu nhưng phải nhập khẩu trở lại Việt Nam được xét hoàn thuế xuất khẩu đã nộp và không phải nộp thuế nhập khẩu. Điều kiện để được xét hoàn thuế xuất khẩu đã nộp và không phải nộp thuế nhập khẩu:
- Hàng hoá được thực nhập trở lại Việt Nam trong thời hạn tối đa 365 ngày kể từ ngày thực tế xuất khẩu;
- Hàng hóa chưa qua quá trình sản xuất, gia công, sửa chữa hoặc sử dụng ở nước ngoài;
- Hàng hoá nhập khẩu trở lại Việt Nam phải làm thủ tục hải quan tại nơi đã làm thủ tục xuất khẩu hàng hóa đó.
Hồ sơ xét hoàn thuế xuất khẩu đã nộp và không phải nộp thuế nhập khẩu, gồm:
- Công văn yêu cầu xét hoàn thuế xuất khẩu và không phải nộp thuế nhập khẩu, trong đó nêu rõ lý do phải nhập khẩu trở lại Việt Nam và cam đoan hàng hoá chưa qua quá trình sản xuất, gia công, sửa chữa hoặc sử dụng ở nước ngoài;
- Thông báo của khách hàng nước ngoài hoặc thỏa thuận với khách hàng nước ngoài về việc nhận lại hàng hoá, có nêu rõ lý do, số lượng, chủng loại… hàng hoá trả lại;
- Tờ khai hải quan hàng hoá xuất khẩu đã làm thủ tục hải quan và bộ chứng từ của lô hàng xuất khẩu;
- Chứng từ nộp thuế xuất khẩu;
- Tờ khai hàng hoá nhập khẩu trở lại, có ghi rõ số hàng hoá này trước đây đã được xuất khẩu theo bộ hồ sơ xuất khẩu nào và kết quả kiểm hoá cụ thể của cơ quan hải quan, xác nhận là hàng hoá nhập khẩu trở lại Việt Nam là hàng hoá đã xuất khẩu trước đây của doanh nghiệp. Trường hợp hàng hoá xuất khẩu trước đây đã được áp dụng hình thức miễn kiểm tra thực tế hàng hoá do phải căn cứ vào kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc của tổ chức giám định theo qui định của Luật hải quan thì cơ quan hải quan đối chiếu
kết quả kiểm hoá hàng hoá thực nhập khẩu trở lại với hồ sơ lô hàng xuất khẩu để xác nhận hàng hoá nhập khẩu trở lại có đúng là lô hàng đã xuất khẩu hay không;
- Chứng từ thanh toán hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu (trừ trường hợp chưa thanh toán);
- Hợp đồng uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu (nếu là hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu uỷ thác).

Cung ứng dịch vụ cho vận tải quốc tế
Hỏi: Cơ sở bán trực tiếp nước uống tinh lọc cho các chủ phương tiện hoạt động vận tải quốc tế để sử dụng cho hoạt động vận tải quốc tế thì doanh thu từ hoạt động cung cấp nước uống này có phải chịu thuế giá trị gia tăng? Thuế suất ra sao?

Trả lời:
Tại Điểm 1.23.d2 Mục II Phần A Thông tư số 32/2007/TT-BTC (9/4/2007) của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng hướng dẫn: “Hàng hóa, dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế là hàng hóa, dịch vụ do cơ sở kinh doanh tại Việt Nam bán trực tiếp cho các chủ phương tiện hoạt động vận tải quốc tế để sử dụng cho hoạt động vận tải quốc tế hoặc sử dụng trực tiếp cho phương tiện vận tải đó bao gồm: Hàng hóa, dịch vụ cung ứng để sử dụng cho hoạt động vận tải quốc tế như suất ăn, nước uống; khăn, giấy vệ sinh;…”.
Căn cứ hướng dẫn trên, nước uống do cơ sở kinh doanh tại Việt Nam bán trực tiếp cho các chủ phương tiện hoạt động vận tải quốc tế để sử dụng cho hoạt động vận tải quốc tế thì doanh thu từ hoạt động cung cấp nước uống này không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng.

Quy định cách ghi trên vận đơn đường biển (B/L)
HỎI: Công ty chúng tôi có mở tờ khai xuất khẩu với tên người nhập khẩu là một công ty thương mại Trung Quốc, khách hàng của chúng tôi có ký hợp đồng với khách hàng thứ ba là Hà Lan và yêu cầu trên hóa đơn vận tải biển (Bill of Lading) mục “Consignee” phải thể hiện tên của khách hàng thứ ba này. Đây là hình thức mua bán hàng tay ba theo thông lệ quốc tế chấp nhận trong việc mua bán ngoại thương. Từ trước đến nay công ty chúng tôi vẫn làm thủ tục xuất khẩu và thực hiện theo thông lệ quốc tế thể hiện trên hóa đơn vận tải biển giống như đã nêu ở trên, nhưng nay phía Hải quan nói công ty chúng tôi khai báo mục “consignee” trên hóa đơn vận tải biển như vậy là sai quy định mà phải khai là Trung Quốc – khách hàng ký hợp đồng trực tiếp với công ty chúng tôi, không được thể hiện tên của người thứ ba trên mục này và đề nghị điều chỉnh lại cho đúng quy định, không chấp nhận ký xác nhận thực xuất.
Như vậy theo thông lệ quốc tế, trường hợp mua bán hàng hóa theo phương thức thanh toán L/C, nếu công ty chúng tôi thể hiện “To order” hoặc “To order of the bank …” trên mục “consignee” như vậy cũng bị trái quy định phải không?
Xin hỏi có quy định nào nói về cách ghi “consignee trên B/L hay không? Hải quan có quyền đòi hỏi cách ghi trên B/L hay không?

TRẢ LỜI:
Các nhà xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam phải tuân theo các thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa do cơ quan có thẩm quyền qui định. Dĩ nhiên, bên cạnh đó, họ còn phải thực hiện theo các thông lệ quốc tế. Tổng cục hải quan đã có Bản hướng dẫn sử dụng tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ban hành kèm theo Quyết định số 1257/2001/QĐ-TCHQ ngày 04/12/2001.
Vận đơn đường biển (Bill of Lading) là chứng từ chuyên chở hàng hoá bằng đường biển do người chuyên chở hoặc đại diện của người chuyên chở phát hành cho người gửi hàng sau khi hàng hoá đã được xếp lên tầu hoặc sau khi nhận hàng để xếp. Vận đơn đường biển là một chứng từ quan trọng trong giao nhận vận chuyển,
bảo hiểm, thanh toán và khiếu nại (nếu có).
Giá trị pháp lý của vận đơn: Theo thông lệ Hàng hải Quốc tế (công ước Brussels 1924, điều 1 khoản b) và Bộ luật Hàng hải Việt nam (điều 81 khoản 3) thì vận đơn là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa người nhận hàng và người chuyên chở.
Qui tắc quốc tế điều chỉnh vận đơn đường biển: Hiện nay có 2 nguồn luật quốc tế chính về vận tải biển, đó là:
- Công ước quốc tế để thống nhất một số thể lệ về vận đơn đường biển, gọi tắt là Công ước Brussels 1924 và hai Nghị định thử sửa đổi Công ước Brussels 1924 là :
+ Nghị định thư sửa đổi Công ước Brussels 1924 gọi tắt là nghị định thư 1968. (Visby Rules – 1968)
+ Nghị định thư năm 1978
- Công ước của Liên hợp quốc về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, gọi tắt là Công ước Hamburg 1978
Mỗi hãng tàu có quyền dựa vào 2 nguồn luật nêu trên để có mẫu riêng cho B/L của mình. Do đó, theo tôi nghĩ, Hải quan không có quyền đòi hỏi cách ghi trên B/L.

Thư báo có của ngân hàng
HỎI: Công ty chúng tôi ký hợp đồng xuất khẩu cho khách hàng. Trường hợp công ty chỉ nhận được e-mail của ngân hàng báo có khoản tiền bổ sung trong tài khoản (tương đương với số tiền khách hàng thanh toán cho công ty chúng tôi) thì có được coi là chứng từ hợp lệ không? Nếu không thì chúng tôi phải làm thế nào?

TRẢ LỜI:
Căn cứ điểm 1 và điểm 7 Công văn số 8282 TC/TCT ngày 22/8/2003 của Bộ Tài chính về việc chứng từ thanh toán đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu quy định: việc thực hiện thanh toán tiền bán hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng giữa các cơ sở kinh doanh Việt Nam với các tổ chức, cá nhân nước ngoài là việc chuyển tiền từ ngân hàng của bên nhập khẩu sang ngân hàng của bên xuất khẩu để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho bên xuất khẩu theo các hình thức thanh toán phù hợp với hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán cho hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu là giấy báo có của ngân hàng bên xuất khẩu. Do đó, nếu ngân hàng nơi công ty đăng ký tài khoản chỉ gởi e-mail thông báo cho công ty mà không có bất cứ chứng từ nào thể hiện là công ty đã nhận được số tiền tương ứng trong tài khoản là không hợp lệ. Công ty phải yêu cầu ngân hàng cung cấp cho công ty giấy báo có đối với số tiền mà công ty nhận được trong tài khoản để phục vụ cho việc thanh khoản.
Tại điểm 1 Công văn số 4326/TCHQ-GSQL ngày 18/10/2005 của Tổng cục Hải quan hướng dẫn: chứng từ thanh toán của ngân hàng phục vụ doanh nghiệp xuất khẩu gửi cho doanh nghiệp phải có chữ ký, con dấu nơi phát hành và thể hiện được các nội dung chính như: tên người thanh toán; tên người thụ hưởng; số tiền thanh toán và phải phù hợp với thoả thuận ghi trong hợp đồng mua bán hoặc phụ lục hợp đồng.
Trường hợp chứng từ thanh toán không có dấu và chữ ký của ngân hàng phục vụ doanh nghiệp xuất khẩu, thì doanh nghiệp phải đề nghị ngân hàng đó xác nhận về giao dịch thanh toán liên quan tới yêu cầu hoàn thuế, bao gồm các yếu tố: tên người thanh toán, tên người thụ hưởng, số tiền thanh toán, số hợp đồng xuất khẩu, kèm dấu và chữ ký của ngân hàng phục vụ doanh nghiệp xuất khẩu. Việc xác nhận có thể thực hiện bằng cách ngân hàng đó ký tên và đóng dấu trên chứng từ thanh toán của mỗi giao dịch thanh toán, hoặc ngân
hàng đó ký tên và đóng dấu trên bảng liệt kê các chứng từ thanh toán giao dịch nếu có nhiều giao dịch thanh toán liên quan tới một hợp đồng yêu cầu hoàn thuế.

Xác định trị giá hải quan
HỎI: Khi xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu sử dụng phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá khấu trừ thì “Mức giá bán ra tính trên số lượng bán ra lớn nhất” là như thế nào?

TRẢ LỜI:
Theo hướng dẫn tại Nghị định số 40/2007/NĐ-CP (16/3/2007) của Chính phủ qui định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì “Mức giá bán ra tính trên số lượng bán ra lớn nhất” sử dụng trong phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá khấu trừ là mức giá mà hàng hoá đã được bán với số lượng tổng cộng lớn nhất trong các giao dịch bán hàng hoá cho những người mua không có quan hệ đặc biệt với người bán hàng hoá, ở cấp độ thương mại đầu tiên ngay sau khi nhập khẩu

Từ chối cấp C/O
HỎI: Theo qui định hiện hành, tổ chức cấp C/O có quyền từ chối cấp C/O cho người đề nghị cấp C/O trong những trường hợp nào?

TRẢ LỜI:
Thông tư số 07/2006/TT-BTM (17/4/2006) của Bộ Thương mại hướng dẫn thủ tục cấp và quản lý việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ theo Nghị định số 19/2006/NĐ-CP (20/2/2006) quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa thì tổ chức cấp C/O có quyền từ chối cấp C/O trong các trường hợp sau:
Người đề nghị cấp C/O chưa thực hiện việc đăng ký hồ sơ thương nhân theo quy định tại Khoản 1, Mục II của Thông tư này.
Bộ hồ sơ xin cấp C/O không chính xác, không đầy đủ như quy định tại Khoản 2, Mục II của Thông tư này.
Người đề nghị cấp C/O chưa nộp chứng từ nợ theo quy định tại Điểm a, Khoản 2, Mục II của Thông tư này.
Bộ hồ sơ có mâu thuẫn về nội dung.
Xuất trình bộ hồ sơ cấp C/O không đúng nơi đã đăng ký hồ sơ thương nhân;
Mẫu C/O khai bằng chữ viết tay, bị tẩy xóa nhiều, mờ không đọc được hoặc được in bằng nhiều màu mực.
Có căn cứ hợp pháp chứng minh sản phẩm không có xuất xứ Việt Nam hoặc người đề nghị cấp C/O có hành vi gian dối, thiếu trung thực trong việc chứng minh nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm;
Khi từ chối cấp C/O, tổ chức cấp C/O phải thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người đề nghị cấp C/O biết trong thời hạn ba (03) ngày làm việc kể từ ngày từ chối.

Xác nhận thực xuất
HỎI: Công ty tôi làm thủ tục xuất hàng tại hải quan Đồng Nai. Xin hỏi trong thời hạn bao lâu thì công ty phải làm thủ tục xác nhận thực xuất? Hồ sơ gồm những giấy tờ gì? Công ty sử dụng hóa đơn tự in có được chấp nhận không?

TRẢ LỜI:
Chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai và ngày hàng hóa xếp lên tàu, doanh nghiệp phải cung cấp hồ sơ chứng từ để cơ quan hải quan Đồng Nai xác nhận thực xuất. Hồ sơ xin xác nhận thực xuất gồm: tờ khai hải quan xuất khẩu bản lưu người khai hải quan; bản sao vận tải đơn bản chính; Hóa đơn thương mại – Invoice (có đóng dấu xác nhận của doanh nghiệp; đã ghi số tờ khai, loại hình, ngày đăng ký); phiếu tiếp nhận tờ khai xin xác nhận thực xuất – 02 bản (theo mẫu). (Công văn số
1341/HQĐN-NV ngày 17/9/2007).
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng hóa đơn tự in theo mẫu đã đăng ký với Cục thuế thì phải xuất trình công văn của Cục thuế cho phép sử dụng hóa đơn tự in.

Xin cấp lại Giấy chứng nhận xuất xứ
HỎI: Do hàng đã được xuất khẩu nhưng phải tái nhập khẩu để tái chế rồi chuyển sang nước nhập khẩu khác nên doanh nghiệp xuất khẩu có thể xin được cấp lại C/O hay không?

TRẢ LỜI:
Theo Thông tư số 07/2006/TT-BTM (17/4/2006) của Bộ Thương mại hướng dẫn thủ tục cấp và quản lý việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ theo Nghị định số 19/2006/NĐ-CP (20/2/2006) quy định chi tiết Luật thương mại về xuất xứ hàng hóa thì trong trường hợp hàng phải tái nhập khẩu để tái chế, chuyển sang nước nhập khẩu khác, người đề nghị cấp C/O phải có đơn đề nghị gửi Tổ chức cấp C/O, nêu rõ lý do cấp lại kèm theo bản gốc và các bản sao C/O cũ (nếu có).
Trong trường hợp tại thời điểm đề nghị cấp, C/O cũ chưa được thu hồi, C/O đề nghị cấp lại sẽ lấy số, ngày cấp mới và được đánh máy rõ vào ô phù hợp trên Mẫu C/O nội dung: THIS C/O REPLACES THE C/O No. (số C/O cũ) DATED (ngày phát hành C/O cũ).
12/ Xử lý sai phạm về khai báo xuất xứ
HỎI: Trường hợp cơ quan hải quan phát hiện xuất xứ hàng hoá khác với xuất xứ do doanh nghiệp khai báo thì bị xử lý như thế nào?
TRẢ LỜI:
Đối tượng nộp thuế tự khai và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về xuất xứ hàng hoá. Khi cơ quan hải quan phát hiện xuất xứ hàng hoá khác với xuất xứ hàng hoá theo khai báo của doanh nghiệp thì cơ quan hải quan sẽ thực hiện việc truy thu thuế và xử phạt theo quy định. Việc thu, xử phạt được thực hiện theo hướng dẫn tại phần G, phần K Thông tư 113/2005/TT- BTC.
Trường hợp cơ quan hải quan phát hiện xuất xứ hàng hoá thực nhập khẩu khác với xuất xứ hàng hoá do doanh nghiệp khai báo nhưng vẫn thuộc danh sách các nước đã có thoả thuận đối xử tối huệ quốc thì cho doanh nghiệp được hưởng thuế suất ưu đãi nhưng phải xác định lại trị giá tính thuế và phải xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Nợ thuế có được giải phóng hàng?
HỎI: Do công ty vừa thanh toán xong tiền thuế nợ nên chưa đủ tiền để nộp tiền thuế phát sinh. Trường hợp này có được xem xét giải phóng hàng không?

TRẢ LỜI:
Trường hợp người nộp thuế đang có nợ quá hạn nhưng chưa thuộc diện cưỡng chế, quy định tại điều 42 Nghị định số 97/2007/NĐ-CP, thì được làm thủ tục hải quan cho các lô hàng phát sinh.
Nếu lô hàng mới phát sinh thuộc diện phải nộp thuế trước khi giải phóng hàng thì cơ quan hải quan không được thông quan, giải phóng hàng cho đến khi người nộp thuế nộp hết số tiền thuế nợ, tiền phát sinh theo trình tự nêu trên.
Trường hợp người nộp thuế có chứng từ bảo lãnh về số thuế phát sinh thì cơ quan hải quan cho phép đối tượng nộp thuế được thông quan hàng hóa.
Trường hợp người nợ thuế đang có nợ thuế quá hạn, nợ phạt chậm nộp không qua ân hạn thuế, nếu có bảo lãnh về số thuế phát sinh thì cơ quan hải quan cho phép đối tượng nộp thuế được làm thủ tục hải quan nhưng chỉ thông quan khi người nộp thuế thực hiện thanh toán xong tiền thuế nợ, tiền thuế truy thu quá hạn hoặc có
bảo lãnh của ngân hàng hoặc tổ chức tính dụng bảo lãnh tòan bộ số nợ trên, thời hạn bảo lãnh số nợ này không quá thời hạn bảo lãnh lô hàng mới phát sinh theo quy định.

Chứng từ thanh toán qua ngân hàng
Hỏi: Chúng tôi xuất khẩu hàng hoá cho 1 công ty Hàn Quốc, công ty này đã thanh toán tiền hàng theo phương thức T/T, chứng từ thanh toán là giấy báo có của công ty Hàn Quốc trả 60% tiền hàng bằng ngoại tệ (USD) qua ngân hàng giao dịch của công ty tại Hàn Quốc và 40% thanh toán từ tài khoản cá nhân tại Việt Nam. Như vậy, hình thức thanh toán này đã phù hợp với qui định thanh toán qua ngân hàng để được khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa xuất khẩu không?
Trả lời: Căn cứ hướng dẫn tại Điểm 1.2.d Mục III Phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC (12/12/2003) hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP (10/12/2003) của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng qui định một trong các điều kiện hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu được khấu trừ/hoàn thuế giá trị gia tăng: “Hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng. Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ ngân hàng của bên nhập khẩu sang ngân hàng của bên xuất khẩu để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho bên xuất khẩu theo các hình thức thanh toán phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng và qui định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu”.
Căn cứ hướng dẫn tại Công văn số 14752/BTC-TCT (23/11/2006) của Bộ Tài chính hướng dẫn về xử lý vướng mắc về chứng từ thanh toán qua ngân hàng từ tài khoản vãng lai: Trường hợp bạn hỏi thì doanh nghiệp được khấu trừ hoặc hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào tương ứng với 60% giá trị thanh toán ghi trên giấy báo Có của ngân hàng và không được khấu trừ hoặc hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào tương ứng với 40% giá trị thanh toán từ tài khoản vãng lai của cá nhân.
Xuất khẩu sản phẩm gỗ có nguồn gốc nhập khẩu
Hỏi: Sản phẩm gỗ nhập khẩu sau đó được xuất khẩu, nếu mặt hàng thuộc diện có thuế xuất khẩu thì khi xuất khẩu doanh nghiệp có phải nộp thuế hay không? Trường hợp này thủ tục hồ sơ như thế nào?
Trả lời:
Bộ Tài chính đã có hướng dẫn thống nhất thực hiện chính sách thuế xuất nhập khẩu đối với sản phẩm gỗ xuất khẩu có nguồn gốc nhập khẩu như sau: Sản phẩm gỗ nhập khẩu sau đó xuất khẩu (bao gồm nhập khẩu tái xuất khẩu, và sản phẩm gỗ sản xuất từ gỗ nhập khẩu) không phải nộp thuế xuất khẩu khi xuất khẩu, nếu mặt hàng có thuế xuất khẩu.
Về hồ sơ thủ tục:
Đối với hàng hóa nhập khẩu tái xuất khẩu (hàng xuất khẩu đúng là hàng nhập khẩu chưa qua chế biến, sản xuất tại Việt Nam); thực hiện như hàng hóa kinh doanh tạm nhập- tái xuất, ngoài ra phải có thêm giấy tờ chứng minh nguồn gốc gỗ nhập khẩu (giấy xác nhận của kiểm lâm về nguồn gốc gỗ nhập khẩu).
Đối với hàng hóa sản xuất từ gỗ nhập khẩu thực hiện như hàng hóa nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp phải đăng ký sản xuất hàng xuất khẩu ngay từ khi làm thủ tục nhập khẩu gỗ nguyên liệu, ngoài ra phải có thêm giấy tờ chứng minh nguồn gốc gỗ nhập khẩu (giấy xác nhận của kiểm lâm về nguồn gốc gỗ nhập khẩu).
Xuất nhập khẩu tại chỗ
Hỏi: Công ty nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất sản phẩm tiêu thụ trong thị trường nội địa thì có thể làm thủ tục hải quan tại chỗ không? Công ty có được phép chọn chi cục hải quan thuận tiện nhất cho mình khi nhập khẩu hàng hóa tại chỗ không?

Trả lời: Hàng hoá được làm thủ tục xuất nhập khẩu tại chỗ phải đáp ứng điều kiện qui định tại điều 15 Nghị định số 154/2005/NĐ- CP của Chính phủ quy định; điểm II, mục 2, phần B Thông tư số 112/2005/TT-BTC và điểm 2, phần I Quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ ban hành kèm theo Quyết định số 928/QĐ-TCHQ ngày 25/5/2006.
Theo hướng dẫn tại điểm 5, phần I Quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ ban hành kèm theo Quyết định số 928/QĐ-TCHQ nói trên thì thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ được thực hiện tại một chi cục hải quan thuận tiện nhất do doanh nghiệp lựa chọn, trừ các trường hợp sau:
- Sản phẩm gia công nhập khẩu tại chỗ để làm nguyên liệu sản xuất sản phẩm tiêu thụ nội địa thì thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ thực hiện tại chi cục hải quan quản lý hợp đồng gia công có sản phẩm nhập khẩu tại chỗ.
- Sản phẩm (trừ sản phẩm gia công) nhập khẩu tại chỗ để làm nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu thì thủ tục hải quan xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ thực hiện tại chi cục hải quan quản lý hợp đồng nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.
- Sản phẩm gia công nhập khẩu tại chỗ để làm nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu, nếu hợp đồng gia công và hợp đồng nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu do cùng một chi cục hải quan quản lý thì thủ tục hải quan xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ thực hiện tại chi cục hải quan này, trường hợp 2 hợp đồng do 2 chi cục hải quan quản lý thì thủ tục xuất khẩu tại chỗ thực hiện tại chi cục hải quan quản lý hợp đồng gia công, thủ tục nhập khẩu tại chỗ thực hiện tại chi cục hải quan quản lý hợp đồng nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.
17/ Không phải khai báo tờ khai trị giá
Hỏi: Đề nghị cho biết cụ thể các trường hợp không phải khai báo tờ khai trị giá khi làm thủ tục hải quan? Khi tiến hành tham vấn, cơ quan hải quan có quyền yêu cầu công ty xuất trình các giấy tờ như bản chào giá, bảo hiểm hàng hoá,… không?
Trả lời:
Các trường hợp không phải khai tờ khai trị giá gồm: hàng hoá nhập khẩu của khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất; hàng hoá nhập khẩu theo loại hình sản xuất xuất khẩu; hàng hoá nhập khẩu có mức thuế suất thuế nhập khẩu bằng 0% (phải nộp thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc không nộp thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt), được nhập khẩu theo điều kiện CIF, C&F, DAF. Giá ghi trên hoá đơn đã phản ánh toàn bộ tổng số tiền người mua phải trả, đồng thời giữa người mua người bán không có mối quan hệ đặc biệt ảnh hưởng đến trị giá; hàng tạm nhập – tái xuất; hàng thuộc đối tượng miễn thuế, xét miễn thuế; hàng xuất khẩu; hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới; hàng hoá nhập khẩu không có hợp đồng mua bán có giá tính thuế là trị giá khai báo như hướng dẫn tại điểm 4 Công văn 4028/BTC-TCHQ ngày 28/3/2006 của Bộ Tài chính.
Điểm b khoản 2 điều 14 và khoản 2 điều 15 Nghị định số 155/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã quy định rõ: cơ quan hải quan có quyền yêu cầu người khai hải quan cung cấp thông tin xác thực và các tài liệu, chứng từ hợp pháp, hợp lệ làm căn cứ xác định trị giá tính thuế và người khai hải quan có nghĩa vụ phải thực hiện.

Chứng từ hàng hoá bán không qua cảng Việt Nam
Hỏi: Chúng tôi mua hàng của một doanh nghiệp ở nước ngoài và giao thẳng cho khách hàng ở nước thứ ba mà không qua cảng Việt Nam. Xin hỏi, hoá đơn chứng từ để hạch toán kế toán cần những gì?

Trả lời:
Trường hợp công ty mua hàng hoá của một doanh nghiệp ở nước ngoài, nhưng không nhập khẩu vào Việt Nam mà bán thẳng cho khách hàng ở nước thứ ba, như vậy hàng hoá nói trên không được sử dụng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng tại Việt Nam nên không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng. Khi giao hàng cho bên mua thứ ba, công ty phải lập hoá đơn để làm cơ sở kê khai doanh thu, dòng thuế giá trị gia tăng không ghi.
Để được hạch toán giá vốn hàng bán cho doanh nghiệp thứ ba vào chi phí hợp lý thì ngoài chứng từ thanh toán tiền, công ty còn phải kèm theo bản gốc hoá đơn, chứng từ mua hàng do doanh nghiệp thứ nhất bán hàng cung cấp cho công ty, đồng thời phải được dịch sang tiếng Việt theo quy định của Luật kế toán.

Số lượng hàng hóa nhập khẩu thực tế thấp hơn số lượng trên tờ khai
HỎI: Công ty tôi đã nộp thuế giá trị gia tăng lô hàng nhập khẩu, sau đó mới phát hiện số lượng hàng hoá thực tế nhà sản xuất gửi thấp hơn số lượng kê khai trên tờ khai hải quan. Như vậy, công ty có được xét hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đã nộp thừa không, cơ quan nào thụ lý hồ sơ giải quyết?

TRẢ LỜI:
Doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa nộp thừa thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu (do có quyết định giảm giá trị gia tăng khâu nhập khẩu của cơ quan hải quan; hoặc số lượng hàng hóa thực nhập thấp hơn số lượng kê khai trên tờ khai hải quan, hoặc tái xuất khẩu trả lại cho nước ngoài do không đúng quy cách,
chất lượng…) thì số thuế giá trị gia tăng đã nộp ở khâu nhập khẩu được coi là số thuế giá trị gia tăng đầu vào
của doanh nghiệp và sẽ được kê khai khấu trừ hoặc hoàn lại khi xác định số thuế giá trị gia tăng phải nộp
trong kỳ của doanh nghiệp tại cục thuế địa phương.
20/ Phát sinh chi phí vận chuyển ở nước ngoài có được tính vào chi phí hợp lý?
HỎI: Chúng tôi xuất hàng đi tiêu thụ ở nước ngoài và phát sinh khoản chi vận chuyển hàng hoá (một dạng phiếu thu ghi bằng tiếng nước ngoài) thì có được hạch toán chi phí hợp lý không?
TRẢ LỜI:
Theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh nghiệp chỉ được hạch toán vào chi phí hợp lý đối với các khoản chi có hoá đơn, chứng từ theo quy định.Do đó, trường hợp công ty có phát sinh chi phí vận chuyển hàng hoá tiêu thụ ở nước ngoài theo thoả thuận ghi trong hợp đồng, theo quy định nêu trên thì công ty chỉ được hạch toán vào chi phí hợp lý trong trường hợp có hoá đơn, chứng từ. Nếu chứng từ vận chuyển ghi tiếng nước ngoài thì phải kèm theo bản dịch tiếng Việt.
Trường hợp chi phí vận chuyển không có hoá đơn, chứng từ thì công ty không được hạch toán vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

Chứng nhận hàng hoá đạt tiêu chuẩn
HỎI: Công ty nhập khẩu lô hàng thuộc diện phải kiểm tra chất lượng và đã có giấy chứng nhận đạt tiêuchuẩn. Vậy có thể dùng giấy chứng nhận này cho lô hàng tiếp theo (cùng mặt hàng này) không?

TRẢ LỜI:
Khoản 1, điều 12 Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ có quy định, một trong những giấy tờ làm căn cứ để cơ quan hải quan thông quan hàng hoá là giấy đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa hoặc giấy thông báo miễn kiểm tra nhà nước do cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền cấp đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc diện phải kiểm tra nhà nước về chất lượng.
Về nguyên tắc, giấy chứng nhận hàng hóa đạt tiêu chuẩn chỉ có giá trị đối với lô hàng được yêu cầu kiểm tra chất lượng. Do vậy, trường hợp hàng hóa công ty nhập khẩu lần sau có cùng model, cùng nhà sản xuất của lô hàng nhập khẩu trước đây, nếu thuộc diện phải kiểm tra chất lượng theo Quyết định số 50/2006/QĐ-TTg ngày 07/03/2006 của Thủ tướng Chính phủ, thì theo quy định công ty vẫn phải thực hiện việc đăng ký kiểm tra chất lượng tại cơ quan quản lý chuyên ngành và tuỳ theo từng trường hợp sẽ được miễn kiểm tra tại cơ quan quản lý chuyên ngành.

Cấp chứng nhận xuất xứ điện tử
HỎI: Chúng tôi quan tâm đến việc thực hiện cấp giấy chứng nhận xuất xứ điện tử đối với hàng hóa Việt Nam xuất khẩu. Xin hỏi, để được áp dụng cấp chứng nhận điện tử, doanh nghiệp cần phải đáp ứng các điều kiện cụ thể gì?

TRẢ LỜI:
Theo Chương II Quy chế cấp chứng nhận xuất xứ điện tử ban hành kèm theo Quyết định số 018/2007/QĐ-BTM (30/7/2007) của Bộ Thương mại về việc ban hành Quy chế cấp chứng nhận xuất xứ điện tử qui định, để được cấp chứng nhận xuất xứ điện tử, thương nhân hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau:
Về điều kiện pháp lý: thương nhân chưa từng vi phạm các quy định về cấp Chứng nhận xuất xứ quy định tại Nghị định số 19/2006/NĐ-CP (20/02/2006) của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hoá.
Về điều kiện năng lực: thương nhân phải đạt được một trong các điều kiện sau: Là doanh nghiệp xuất khẩu uy tín do Bộ Thương mại xét chọn; Là doanh nghiệp xuất khẩu dệt may, giày dép, có kim ngạch xuất khẩu bình quân trong 3 năm gần đây đạt trên 30 triệu USD/năm; Là thành viên vàng hoặc thành viên bạc của ECVN; Được các hiệp hội ngành hàng giới thiệu và bảo lãnh.
Về điều kiện về kỹ thuật: thương nhân phải đảm bảo: có cán bộ vận hành các thiết bị công nghệ thông tin; có máy vi tính nối mạng Internet; có máy in laser hoặc máy in phun; có hệ thống an ninh, bảo mật tích hợp được với Hệ thống MOT-CA của Bộ Thương mại.

Uỷ quyền khai hải quan
HỎI: Theo qui định hiện hành thì giám đốc doanh nghiệp có thể được uỷ quyền cho nhân viên của mình ký hợp đồng ngoại thương, khai báo và ký tên trên tờ khai hải quan hay không?

TRẢ LỜI:
Nghị định số 58/2001/NĐ-CP (24/8/2001) của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu và Điểm 2.2 Mục III Phần C Thông tư liên tịch số 07/2002/TT-LT (6/5/2002) của liên bộ Công an – Ban tổ chức cán bộ Chính phủ qui định: “Con dấu chỉ được đóng lên các văn bản, giấy tờ sau khi các văn bản, giấy tờ đó đã có chữ ký của cấp có thẩm quyền gồm: cấp trưởng, cấp phó hoặc cấp dưới trực tiếp được uỷ quyền của cơ quan, tổ chức đó; không được đóng dấu vào văn bản, giấy tờ không có nội dung, đóng dấu trước chữ ký”.
Khoản 1, Khoản 3 Điều 10 Nghị định số 110/2004/NĐ-CP (8/4/2004) của Chính phủ về công tác văn thư qui định “ở cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ký tất cả các văn bản của cơ quan, tổ chức có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT) các văn bản thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách” và “trong các trường hợp đặc biệt, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể uỷ quyền cho một cán bộ phụ trách dưới quyền mình một cấp ký thừa uỷ quyền (TUQ) một số văn bản mà mình phải ký. Việc giao ký thừa uỷ quyền phải được qui định bằng văn bản và giới hạn trong một thời gian nhất định. Người được uỷ quyền không được uỷ quyền cho người khác ký”.
Như vậy, cơ quan hải quan chỉ chấp nhận đối với các trường hợp uỷ quyền đúng với qui định nêu trên. Khi thực hiện quan hệ giao dịch với cơ quan hải quan, người uỷ quyền phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan hải quan biết về thời hạn, phạm vi uỷ quyền hoặc khi có thay đổi về thời hạn, phạm vi được uỷ quyền.

Đăng ký quyền xuất khẩu, nhập khẩu
HỎI: Trường hợp thương nhân nước ngoài thuộc nước là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới không hiện diện tại Việt Nam, nếu đáp ứng các điều kiện theo qui định thì cần phải chuẩn bị hồ sơ gồm những giấy tờ gì để được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, nhập khẩu?

TRẢ LỜI:
Điều 8 Nghị định số 90/2007/NĐ-CP (31/5/2007) của Chính phủ qui định về quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam qui định hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu bao gồm:
Văn bản đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu theo mẫu của Bộ Thương mại; Bản giải trình và hồ sơ chứng minh việc đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 7 Nghị định này; Bản sao giấy chứng minh thư, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với thương nhân nước ngoài là cá nhân; Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ khác có giá trị tương đương và bản sao giấy chứng minh thư, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo pháp luật; báo cáo tài chính và hoạt động của năm trước đó đối với thương nhân nước ngoài là tổ chức kinh tế; Văn bản xác nhận vốn kinh doanh, số tài khoản tại ngân hàng nơi thương nhân nước ngoài mở tài khoản ở quốc gia hoặc vùng lãnh thổ mà thương nhân nước ngoài đăng ký kinh doanh.
Các văn bản trên phải được lập bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt và phải được cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam chứng nhận và thực hiện hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Chi phí bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu
HỎI: Công ty chúng tôi mua hàng giá C& F, vậy khi lên tờ khai để nhận hàng, chúng tôi phải tính cộng thêm “giá I” (bảo hiểm) là bao nhiêu để chuyển thành giá CIF?

TRẢ LỜI:
Theo hướng dẫn của Cục Hải quan Tp.HCM: căn cứ Điểm 2.8 Mục VII Phụ lục I Thông tư 113/2005/TT-BTC (15/12/2005) của Bộ Tài chính, thì chi phí bảo hiểm hàng hóa đến địa điểm nhập khẩu như sau: trường hợp người nhập khẩu không mua bảo hiểm cho hàng hóa thì không phải cộng thêm chi phí này vào trị giá tính thuế; phí bảo hiểm mua cho cả lô hàng gồm nhiều loại hàng hóa khác nhau, nhưng chưa được ghi chi tiết cho từng loại hàng hóa thì phân bổ theo trị giá của từng loại hàng hóa.
Chi phí bảo hiểm hàng hóa được khai báo tại ô số 17 của tờ khai trị giá. Nếu chi phí này đã gồm thuế giá trị gia tăng phải nộp tại Việt Nam thì không phải cộng khoản thuế này vào trị giá tính thuế

Chi phí vận chuyển
HỎI: Doanh nghiệp ký hợp đồng nhập khẩu với nước ngoài theo giá FOB. Phí vận chuyển đường biển được thanh toán cho đại lý của họ ở Việt Nam. Xin hỏi, khi tính thuế nhập khẩu, cơ quan hải quan có cộng phần chi phí vận chuyển này vào giá trị hàng trên hợp đồng nhập khẩu không?

TRẢ LỜI:
Điểm 2.7, mục VII Phụ lục 1 – Trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu, ban hành kèm theo Thông tư số 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 của Bộ Tài chính quy định: “Chi phí vận chuyển và mọi chi phí khác có liên quan trực tiếp đến vận chuyển hàng nhập khẩu đến địa điểm nhập khẩu, như: chi phí bốc, dỡ, xếp và chuyển hàng, phụ phí tàu già, chi phí thuê các loại container, thùng chứa, giá đỡ được sử dụng như một phương tiện để đóng gói phục vụ chuyên chở hàng hoá, và sử dụng nhiều lần. Trị giá của khoản điều chỉnh này được xác định trên cơ sở hợp đồng vận chuyển hoặc các chứng từ, tài liệu liên quan đến vận chuyển hàng hoá”.
Căn cứ quy định nêu trên thì chi phí vận chuyển và mọi chi phí khác có liên quan trực tiếp đến vận chuyển hàng nhập khẩu đến địa điểm nhập khẩu là yếu tố điều chỉnh cộng. Như vậy, đối với trường hợp ký hợp đồng theo giá FOB thì khi xác định trị giá tính thuế, phải cộng chi phí vận chuyển và mọi chi phí khác có liên quan trực tiếp đến vận chuyển hàng nhập khẩu đến địa điểm nhập khẩu vào giá ghi trên hợp đồng.